Như chúng ta đã biết, phần 4 của tựa game đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng các game thủ quốc tế, lẫn Nhật Bản. Namco quyết định bật đèn xanh cho Project Aces làm tiếp hậu bản của tựa game đình đám này. Và thế là chúng ta có The Unsung War
Phần 5 của Series được ra mắt vào ngày 21/10/2004 ở Nhật, 25/10 cùng năm ở Mỹ và 18/2/2005 ở Châu Âu. Đây có lẽ là một trong những phần có quy mô lớn nhất tựa Game. Với hàng chục nhiệm vụ cùng hơn 50 phi cơ các loại có thể điều khiển. Kazutoki Kono và đồng nghiệp đã khiến không ít những Fan cứng phải mất ăn mất ngủ vì tựa game này. Hơn 1 triệu 800 nghìn bản đã được tẩu tán chỉ trong một thời gian ngắn. Tuy không tạo nhiều đột phá như Shattered Skies, nhưng chất lượng của bản này cũng rất ổn. Anh em chưa biết chơi bản nào đầu tiên thì tôi khuyên nên thử mấy bản trên PS2 trước, đáng đến từng xu bỏ ra luôn đó.
Hồi mới chơi phần này trên con máy PS2 cổ lỗ sĩ. Tôi với gia đình cùng hú hét trước những pha bẻ lái thần sầu. Cũng như nhiều trường đoạn hồi hộp căng thẳng khi phải bay qua những đường hầm, vách núi hiểm trở. Sau mỗi màn chơi hoàn thành là sự phấn khích, cũng như toát mồ hôi hột khi điều khiển phi cơ. Lắm lúc cũng cắm đầu xuống đất không biết bao nhiêu lần. Mấy cốc nước cam mẹ tôi pha cho cả nhà cũng không hạ nhiệt nổi bầu không khí căng thẳng đó. Thú thật, căn phòng 40 mét vuông thời ấy chẳng khác gì cái chợ vỡ cả. Chỉ khác ở chỗ người họp chợ là cánh đàn ông con trai thôi.
Tính ra so với thời chơi game bằng con PC chạy MS-DOS, thì cái cảnh lái máy bay trên PS2 nó bát nháo hơn nhiều lần mấy ông ạ. Hồi xưa chỉ có bố với 2-3 người anh chị em họ. Còn về sau ngoài những người đó ra, còn có cả đống bạn bè cùng lớp đến quẩy chung nữa. Tầm 10-12 người, mà không có cảnh Toxic chửi bới đâu nhé. Ồn ào nhưng cũng phải trong giới hạn cho phép, ai mà chửi bậy 1 câu là bị mời ra khỏi phòng ngay.
Chắc ông chú Kazutoki Kono ngày xưa cũng có thời tuổi trẻ sôi nổi như thế này. Bằng đam mê nhiệt huyết, họ đã tạo ra những kiệt tác mà không phải ai cũng làm được, dẫu hầu hết những huyền thoại đó chưa được đào tạo qua trường lớp. Bật mí với anh em ngày xưa mình không nuôi mộng thành game thủ chuyên nghiệp đâu. Mà ước ao được trở thành những người có khả năng tạo ra vô số kiệt tác để đời. Cơ mà đến bây giờ vẫn chưa biết xài công cụ làm game nào, dù là đơn giản nhất. Ước mơ vẫn chỉ là ước mơ thôi, haizz…
OK, xong phần hàn huyên tâm sự rồi. Giờ thì bắt đầu phần cốt truyện game luôn nhé anh em
Chiến tranh Vành đai Thái Bình Dương, còn được gọi là Xung đột Belkan và Cuộc đại chiến, là một cuộc chiến quy mô lớn được tiến hành giữa Liên bang Osean và Liên minh các nước Cộng hòa Yuktobanian. Cuộc xung đột sau đó được tiết lộ là do một nhóm những người theo chủ nghĩa dân tộc Belkan gây ra, được gọi là “Grey Men”. Cho dù được gọi như vậy, nhưng cuộc xung đột đã diễn ra trên khắp Đại dương Ceres.
Mở đầu
Năm 1995, sau khi phát hiện ra các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở nước Ustio láng giềng, Belka đã phát động một cuộc tấn công phối hợp chớp nhoáng (do Không lực Belkan trứ danh dẫn đầu) và xâm lược Ustio, Osea và Sapin. Liên minh lực lượng Osean và Ustian, được hỗ trợ bởi Yuktobania và một số phi đội đánh thuê nước ngoài, đã xoay chuyển thế trận và đẩy lùi lực lượng của Belka trở lại lãnh thổ Belkan. Vào ngày 6 tháng 6 năm 1995, Belka cho nổ 7 đầu đạn hạt nhân dọc theo Dãy núi Waldreich trong một nỗ lực ngăn chặn bước tiến của các Lực lượng Đồng minh — hàng nghìn thường dân Belkan đã thiệt mạng trong những vụ nổ. Một lệnh ngừng bắn ngay lập tức được thông qua, và hiệp ước hòa bình đã được tất cả các nước liên quan phê chuẩn ngay sau đó.
Osea và Yuktobania, ở giữa cuộc Chiến tranh Lạnh, đã giải quyết những mâu thuẫn của họ trong Cuộc chiến Belkan và trở thành đồng minh hùng mạnh trong những năm sau đó. Hai siêu cường đã tận hưởng một kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng kinh tế kéo dài khoảng 15 năm, trong đó một số dự án hợp tác đã được hoàn thành, bao gồm cả Trạm vũ trụ Arkbird và Basset. Trong thời gian này, một tổ chức bí mật bắt đầu sắp đặt một kế hoạch để thổi bùng lên mối thù giữa hai siêu cường như một sự trả thù cuối cùng cho thất bại của Belka dưới tay Osea và Yuktobania vào năm 1995. Tự đặt tên cho mình là Grey Men, nhóm siêu cường Belkan (bao gồm cả những doanh nhân và chính trị gia Belkan có tiếng) lặng lẽ nắm quyền kiểm soát các cơ sở chiến lược dọc biên giới Belka-Osea, bao gồm Núi Schirm, Lâu đài Stier, và Nhà máy sản xuất đạn dược Nam Belka cũ.
Các cuộc giao tranh đầu tiên
Vào ngày 23 tháng 9 năm 2010, Phi đội máy bay chiến đấu số 108 của OADF, “Phi đội Wardog”, đang tập huấn trên Cape Landers thì một phi đội MiG-29 không xác định đã tiến vào không phận. Những kẻ gian đã tấn công máy bay Osean, và cuộc giao tranh đã cướp đi sinh mạng của mọi học viên, ngoại trừ Thiếu úy Kei Nagase – và hai trong số ba huấn luyện viên (huấn luyện viên sống sót là Đại úy Jack Bartlett). Căn cứ của phi đội Wardog, Căn cứ Không quân Sand Island, và các phi công còn lại trên mặt đất đều không hề hấn gì.
Ngay hôm sau, vào ngày 24 tháng 9, một máy bay không xác định khác đã tiến vào không phận Osean. Mạng lưới phòng không của Osea đã bắn cháy phi cơ và chiếc phi cơ đó đã tháo chạy khỏi không phận Osean. Sand Island huy động Phi đội Wardog – dưới sự chỉ huy của Đại úy Bartlett — để thực hiện việc đánh chặn. Phi đội Wardog đã cố gắng buộc phi cơ hạ cánh, nhưng một lần nữa, một phi đội máy bay chiến đấu vô danh bất ngờ tiến vào không phận và giao tranh với phi đội Osean. Tuy nhiên, lần này, phi đội Wardog đã trụ vững trước quân địch và bắn hạ tất cả các máy bay không xác định.
Vào ngày 27 tháng 9, một tàu do thám được phát hiện trong vùng lân cận của Sand Island; phân tích radar cho thấy con tàu bí ẩn đã triển khai một số máy bay do thám không người lái . Phi đội Wardog, nhận lệnh không được làm hư hại con tàu vô danh, một lần nữa cất cánh và bắn hạ tất cả các máy bay do thám. Lần thứ ba trong vòng chưa đầy một tuần, một phi đội gồm các máy bay chiến đấu vô danh giao chiến với phi đội Wardog bị bắn hạ.

Biểu tượng Phi đội Wardog

Các thành viên Phi đội
Trong cuộc giao tranh, tàu do thám đã bắn một tên lửa phòng không vào Nagase. Bartlett đã gây nhiễu và làm chệch hướng tên lửa khỏi máy bay của Nagase, hứng đạn và thoát khỏi chiếc F-4G Wild Weasel bị hư hỏng của mình trước khi nó lao xuống biển Ceres. Tuy nhiên, khi máy bay trực thăng tìm kiếm và cứu nạn đến, không ai có thể tìm thấy Bartlett và anh được tuyên bố là đã mất tích. Vào thời điểm các phi công Wardog còn lại đã trở về căn cứ, Yuktobania chính thức tuyên chiến với Osea.
Khai chiến
Sau khi tuyên chiến, Yuktobania đồng thời tiến hành một cuộc tấn công vào quân cảng St. Hewlett, nơi có kỳ hạm Kestrel thuộc hạm đội 3 hải quân Osean. Phi đội Wardog gặp gỡ các phi đội đồng minh khác gần đó và cố gắng hộ tống Kestrel vào vùng nước mở, bất chấp việc người Yuktobanian triển khai nhiều máy bay ném bom và phong tỏa tàu chiến bên ngoài cửa cảng.
Cuối buổi tối hôm đó, Yuktobania tiến hành một cuộc tấn công ném bom bất ngờ bắt đầu trên Sand Island, điểm cực tây của Osea, và Phi đội Wardog đã cất cánh một lần nữa. Trong cuộc tấn công, Trung tá Ford, chỉ huy phi đoàn 108 TFS , cố gắng hạ cánh, nhưng đã bị bắn hạ và bị giết trong khi tiếp cận. Blaze, hiện là thủ lĩnh của Phi đoàn 108, cùng với Nagase và Alvin H. Davenport được yểm trợ bởi Phi công hạng nhất Hans Grimm, người đã cất cánh thành công bất chấp sự bắn phá dữ dội của kẻ thù. Cùng lúc đó, bốn máy bay chiến đấu của Phi đội Wardog đã đẩy lùi cuộc không kích của người Yuktobanian, giúp căn cứ không quân khỏi thiệt hại không thể tránh khỏi.

Kei Nagase
Osean phản công
Osea nhanh chóng bắt đầu tập hợp lực lượng của mình để chuẩn bị cho một cuộc phản công chống lại Yuktobania. Vào ngày 30 tháng 9, các tàu sân bay của Hạm đội 3 Hải quân Osean (Kestrel, Vulture và Buzzard), đã gặp nhau tại eo biển Eaglin ở phía bắc Osea. Khi các tàu chiến tiến vào eo biển, máy bay phản lực của hàng không mẫu hạm Yuktobanian xâm nhập không phận và tiến hành một cuộc tấn công bất ngờ vào các tàu sân bay. Mặc dù các máy bay tiêm kích đã bị máy bay hộ tống của Osean bắn hạ, hai quả tên lửa nổ từ tàu sân bay Scinfaxi dưới nước đã được phóng đi. Những đầu đạn này đã đánh chìm 2 tàu Vulture và Buzzard, cũng như phần lớn các máy bay chiến đấu của Osea — chỉ còn Kestrel, phi đội của tàu và Phi đội Wardog còn sống sót. Sau cuộc giao tranh, phi đội Wardog rút về Căn cứ Không quân Heierlark.
Để đối phó với mối đe dọa từ Scinfaxi và tên lửa nổ, Osea quyết định triển khai Arkbird, một tàu vũ trụ cơ động lớn có khả năng tấn công từ quỹ đạo, vào trận chiến. Osea đã lên kế hoạch cho một chiến dịch SSTO để gắn lại mô-đun laser phía dưới của Arkbird đã bị loại bỏ vài năm trước như một phần của cuộc đàm phán cắt giảm vũ khí năm 2008. Hệ thống Mass Driver dự kiến phóng SSTO đã bị máy bay Yuktobanian tấn công vào ngày 3 tháng 10, , nhưng Wardog, đã hạ cánh xuống Căn cứ Không quân McNealy trên đường trở về Sand Island, đã chặn được các lực lượng tấn công, và quá trình phóng đã diễn ra suôn sẻ.
Ngày hôm sau, mô-đun laser của Arkbird được gắn vào và hoạt động êm xuôi—đúng lúc Yuktobania cố gắng thực hiện một cuộc tấn công thứ hai vào Sand Island. Lần này, người Yuktobanian tung ra một lực lượng đổ bộ lớn để đánh chiếm căn cứ. Phi đội Wardog bảo vệ căn cứ và ngăn chặn hạm đội hải quân đang tiến tới, hạm đội đó cũng triển khai tàu Scinfaxi để hỗ trợ. Tất cả các phi công tân binh vừa gia nhập Phi đội Wardog đều bị bắn hạ trong cuộc tấn công bằng tên lửa nổ sau đó, nhưng với sự hỗ trợ từ Arkbird, các phi công Wardog còn lại đã đánh chìm được chiếc Scinfaxi.

Tàu Scinfaxi
Sự mất tích của Harling và Nikanor
Vài tuần sau khi Yuktobania cố gắng chiếm Sand Island, vào ngày 22 tháng 10, Tổng thống Osean Vincent Harling đã cố gắng đến quốc gia trung lập North Point để tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình với Thủ tướng Yuktobanian Seryozha Viktrovich Nikanor. Tuy nhiên, lực lượng phòng không của Osea, không nhận ra phi cơ vận tải bí mật của tổng thống (Mother Goose One), đã bắn vào chiếc máy bay và buộc nó phải hạ cánh khẩn cấp ở một nơi nào đó ở Đồi Akerson.
Phi đội Wardog đã bảo vệ chiếc máy bay cho đến khi nó hạ cánh, sau đó việc vận chuyển của tổng thống được giao cho Phi đội 8492. Đây sẽ là lần cuối cùng Tổng thống Harling được nhìn thấy trong vòng hai tháng; từ đó trở đi, Phó Tổng thống Osean Appelrouth nắm quyền chỉ huy quân đội Osean. Đó là khoảng thời gian mà Thủ tướng Nikanor đã bị lật đổ một cách lặng lẽ bởi một cuộc đảo chính của các chiến binh cánh hữu Yuktobanian.