This War of Mine – Những câu chuyện trong thời chiến

Hoursea 01.05.2020

Câu chuyện của Bruno, Katia và Pavle

Trước chiến tranh Marco là đầu bếp có tiếng, anh ấy còn sở hữu một chương trình dạy nấu ăn trên tivi nữa cơ. Pavle là cầu thủ bóng đá, anh được các câu lạc bộ trong nước đánh giá cao về sức bền và kĩ năng kiểm soát bóng. Còn Katia là một luật sư giỏi, người đã giải quyết thành công rất nhiều vụ kiện cho các thân chủ của cô.

Nhưng khi có chiến tranh xảy ra. Họ không dùng kỹ năng của mình như trước nữa. Giờ đây Pavle dùng đôi chân dẻo dai của mình để chạy thật nhanh khỏi những kẻ sẵn sàng giết người cướp của. Còn Marco quên gần hết các công thức nấu ăn xa xỉ. Nhìn thấy Pavle mang vài miếng thịt, với vài rau củ quả về là mừng lắm rồi. Katia thì vận dụng tài ăn nói của mình để khéo léo trả giá với các tay thương nhân, chỉ mong đổi được những món đồ cần thiết với mức giá phải chăng.


[QUẢNG CÁO] Clip từ HIỆP SĨ BÃO TÁP


Katia thèm cà phê lắm, ngặt nỗi trong chiến tranh chúng cực kì khan hiếm, nên giá đội lên rất cao. Lắm lúc phải đổi bao nhiêu là đường, nước lọc chỉ để có được vài ly cà phê ấm nóng để minh mẫn hơn.

Bruno thì thèm thuốc lá, món này thì tự làm ở nhà cũng được. Ngặt nỗi thuốc lá tự làm bằng lá thuốc rởm vị đắng và khét đến nhăn mặt. Nhưng dẫu sao vẫn là thuốc lá. Chứ không có thuốc hút thì Bruno không chịu được.

Buổi tối hôm đó. Pavle ra ngoài thu nhặt đồ ăn và nhu yếu phẩm như thường lệ. Katia thì ban ngày làm việc muốn gãy lưng, giờ phải ngủ một giấc cho ngon để lấy lại sức. Vậy là Bruno canh gác căn nhà vào ban đêm.

Nói là canh gác chứ cũng gà gật lắm vì ban ngày làm việc suốt nên cũng mệt rồi. Bruno dựa lưng vào chiếc ghế bành ngủ thiếp đi.

Bỗng một tiếng rầm bạo lực kèm theo tiếng gỗ gãy răng rắc. Bruno giật mình tỉnh dậy. Bốn tên cướp đã đạp cửa xông vào nhà, tay lăm lăm dao và gậy gộc. Bruno với tay rút con dao bếp giắt bên hông, Katia cũng vừa choàng tỉnh và cầm run run cây rìu trong tay. Vốn dĩ nó dùng để chặt gỗ. Nhưng giờ có thể dùng để… chặt người.

“Ở đây không có gì đáng lấy đâu! Chúng tôi hết lương thực rồi!” Bruno cố gắng làm bọn cướp từ bỏ ý định.

Nhưng chẳng tên nào thèm đáp trả lấy một tiếng. Chúng hét lên man rợ. Hai tên vung tay chém lia lịa trước mặt Bruno và Katia, hai tên còn lại xồng xộc chạy thẳng vào gian bếp. Chúng vơ vét hết thức ăn. Giật phăng các hộc tủ ra lấy hết đường, bột mì và cà phê. Hai tên kia trừng mắt với Bruno và Katia, tỏ ý đe dọa. Nếu dám tiến lên một bước thì chúng sẽ chém ngay. Katia quá sợ hãi, chân run cầm cập, hai hàm răng cắn chặt. Bruno không thể làm gì, chỉ có thể bất lực nhìn bọn cướp.

Loáng một hồi bọn chúng đã cho hết các thứ vào bao tải và chạy phăng ra khỏi căn nhà. Miếng ăn trong tình cảnh này khác gì mạng sống. Vậy mà giờ gian bếp đã tanh bành trống trơn, tất cả những thức ăn quý giá mà cả ba người khó khăn lắm mới dành dụm được đều bị cướp sạch. Bruno tức điên hét lên: “Các người không thể lấy hết của chúng tôi được!” Anh vụt chạy theo hòng giật lại được một ít đồ ăn. Hai tay Bruno bấu chặt lấy bao tải. Một tên cướp không ngần ngại rút dao ra đâm anh một nhát vào bụng. Bruno ngã gục xuống, còn bọn cướp thì chạy thục mạng không thèm ngoảnh lại.

“Không! Bruno!” Katia hét lên.

Sáng hôm sau, Pavle trở về. “Này mọi người! Xem tôi mang gì về đây này. Bằng này có thể ăn được trong 2 ngày đấy.” Nhưng khuôn mặt hớn hở của Pavle bỗng trở nên thất thần. Anh thấy Bruno nằm liệt giường, với một vết thương ở bụng. Katia thì hai mắt đỏ hoen vì khóc và vì thức trắng đêm.

“Tôi đã băng bó cho anh ấy rồi. May mà vết thương không sâu.” Katia nói. “Nhưng bọn chúng lấy hết đồ ăn thức uống rồi.”

Lượng thức ăn mà Pavle mang về cầm cự được đúng 2 ngày.

Ở gần đây có một căn nhà lụp xụp của hai vợ chồng già. Pavle đã có lần đi ngang qua. Phía sau của ngôi nhà có một chỗ có thể trèo vào được.

Ngày thứ 3, Pavle mang đồ ăn về.

“Thức ăn đây. Đừng hỏi tôi gì cả.” Anh rệu rã ngã phịch vào giường. Đặt tay lên mặt. Thở những tiếng nặng nhọc.

Có lẽ cả đời này anh cũng không xóa được tiếng van xin của 2 vợ chồng già kia ra khỏi đầu.


Câu chuyện của Adam

Quả bom đêm qua đã làm căn nhà đổ sập. May là Adam đã kịp thời bế con qua chung cư đối diện. Nơi ở mới này cũng không tệ, vẫn có giường, gối, chăn màn. Đèn đóm và lò sưởi vẫn hoạt động. Quá tốt cho một chỗ ở nằm trong thành phố đang xảy ra chiến tranh bất kể ngày đêm.

Nhưng con bé cần thuốc. Nó đang sốt cao. Adam không muốn nó chết vì bệnh tật do thiếu thốn thuốc men như mẹ nó. Adam không chịu đựng được tình cảnh đó diễn ra thêm nữa. Anh thề sẽ làm cho con bé khỏe mạnh và bế nó đi khỏi thành phố nguy hiểm này.

“Gắng lên Amelia. Cha sẽ tìm cách để giúp con khỏe lại. Cha hứa đấy.”

Tiếng đập cửa rầm rầm vang lên. “Adam! Chúng ta cần nói chuyện!”. Là giọng của em trai anh.

“Một hành lang nhân đạo đã được mở. Họ cho phép những người có trẻ nhỏ được ưu tiên ra khỏi thành phố. Adam, bế Amelia đi thôi. Nó là tấm vé để chúng ta thoát khỏi đây.”

“Amelia không phải tấm vé. Nó là con anh. Để được tới được đó quá nguy hiểm. Chúng ta sẽ bị giết trước khi đến nơi. Vả lại, con bé đang bị sốt cao. Không có chuyện nó sống được đến đó đâu. Nó cần được chăm sóc tĩnh dưỡng ở đây.”

“Anh đừng ngoan cố như thế! Nó sẽ sống được thôi mà. Nó là cơ hội duy nhất để chúng ta ra khỏi cái thành phố chết tiệt này! Nếu thoát ra được thì cả 3 người chúng ta sẽ an toàn. Anh không muốn Amelia được an toàn sao? Nếu anh sợ thì để em đưa Amelia đi một mình cũng được.”


“Chú mà động vào cho bé. Anh sẽ giết chú ngay. Cút đi. Anh không muốn nhìn thấy mặt chú nữa.”

Trước câu trả lời đanh thép của Adam, người em trai nhăn mặt rồi cộc cằn bỏ đi.

Tối hôm đó Adam ngủ thiếp đi do kiệt sức vì nhiều ngày liền thức chăm Amelia. Buổi sáng thức dậy. Anh đã không thấy Amelia ở đâu.

“Amelia? Amelia!? Con ở đâu? Khốn kiếp! Chắc chắn thằng em đã bế con tôi đi rồi! Tôi sẽ giết nó!”

Lần theo manh mối tới một hiệu thuốc. Adam xuống tầng hầm. Anh thấy xác của em trai nằm ở đó. Dẫu rằng việc của người em trai làm là không thể tha thứ. Nhưng Adam vẫn thương xót. Nó không đáng bị đâm đến chết như thế.

Anh tiếp tục lần theo manh mối đến một trường học. Ngôi trường đã bị đánh bom. Không khí đầy bụi, còn trần nhà thì như có thể đổ sập bất cứ lúc nào. Người vô gia cư chen chúc nhau sống trong các phòng học còn an toàn. Những người còn lại lác nhác đi đào bới các đống đổ nát, mong kiếm được miếng ăn thức uống hay cái gì đó hữu ích.

“Con bé có mái tóc màu vàng hả? Tôi có thấy nó đấy.”

“Thật chứ! Cám ơn chúa! Làm ơn nói tôi biết nó đang ở đâu!”

“Tôi đói lắm. Anh đem cho tôi 3 phần ăn thì tôi nói nhé.”

“Nói ngay. Không tôi bẻ gãy tay anh ngay bây giờ. Tôi không đùa đâu.”

“Cứ việc. Anh mà đánh hay giết tôi thì đừng hòng gặp lại con bé.”

Mặc dù giận tím mặt, nhưng Adam vẫn phải bất đắc dĩ làm theo yêu cầu của kẻ vô gia cư kia. Tối hôm sau anh xoay sở được 3 phần ăn đem cho hắn. Hắn ta giữ đúng lời hứa và tiết lộ rằng Amelia đã được đưa đến bệnh viện.

Adam tới bệnh viện và hỏi han khắp nơi. Anh tìm được một người đã trông thấy Amelia.

“Hai hôm trước tôi thấy anh bế con bé đến đây. Kể từ đó thì tôi không gặp nó nữa.”

“Tôi chưa từng đến đây! Đó chắc hẳn là kẻ bắt cóc!”

“Lạy chúa. Tội nghiệp con bé. Mong anh tìm được nó.”

Adam không bỏ cuộc, nhất định trong bệnh viện vẫn còn ai đó trông thấy Amelia. Anh tình cờ gặp một nữ bệnh nhân đang khoác chiếc áo của Amelia. Y tá cho anh biết rằng bác sĩ có thể biết về cái áo, nhưng thật không may ông đã bị quân lính bắt. Nơi ông đang bị giam giữ là cửa hàng đồ chơi.

“Đừng tới đó. Quân lính ở đó sẽ bắn bất cứ ai khả nghi. Tới đó chỉ có mất mạng.”

“Cám ơn. Nhưng tôi phải tìm bằng được con bé.”

Cửa hàng đồ chơi giờ đã trở thành nơi quân chính phủ dùng để thẩm vấn và tra tấn các nghi phạm. Bởi chính phủ nghi ngờ quân nổi dậy sẽ giả làm dân thường và rời khỏi thành phố thông qua hành lang nhân đạo. Quân lính được lệnh bắt giữ và tra khảo những ai bị tình nghi giúp đỡ phiến quân.

Dưới tầng hầm, giọng ông bác sĩ thốt lên từng tiếng đau đớn:

“Tôi… không biết… gì cả.”

“Đừng có nói láo! Bệnh viện rõ ràng là ổ chứa phiến quân! Nói ngay. Chúng đã tẩu thoát tới đâu?” Tên lính dứt lời bằng một cú thụi điếng người vào bụng ông ấy.

“Đừng đánh nữa… Họ tới nhà thờ… Tất cả mọi người… Kể cả những đứa trẻ…”

Vậy là Adam đã biết được Amelia đã được đưa đến nhà thờ. Phân vân một lúc, cuối cùng anh đành phải rời đi, bỏ mặc vị bác sĩ. Anh chẳng thể tưởng tượng được anh có thể hạ gục toán lính và cùng ông bác sĩ yên ổn ra khỏi đây. Chiến tranh mà, ở trong này có cả tá người đang bị tra khảo tàn nhẫn mà anh không thể giúp được ai trong số họ. Adam lẻn ra khỏi nơi này. Trong đầu anh giờ chỉ nung nấu một ý nghĩ duy nhất, là cứu lấy Amelia.

Trong khuôn viên nhà thờ, xác chết nằm la liệt, mùi tử thi nồng nặc xộc vào mũi. Những người dân thường đã bán mạng chạy tới đây tập trung để thoát ra khỏi thành phố. Cuối cùng bị quân đội thảm sát hàng loạt.

Adam bước tới hỏi vị linh mục của nhà thờ.

“Thưa cha. Con tới tìm con của con, cháu Amelia. Xin đừng nói với con là con bé đã chết trong vụ thảm sát…”

“Không.”

“Tạ ơn chúa! Nó có ở đây không?”

“Nó ở đây. Tới thăm nó đi. Cha gửi lời cầu nguyện cho con bé.”

Tới khu nghĩa địa. Adam chợt nhận ra nơi này quen thuộc. Anh đã ở đây rồi.

“Nơi này… Mình nhớ rồi…”

Kí ức bỗng nhiên ùa về. Adam hồi tưởng lại cái đêm mất tích của Amelia mà trước đây anh không nhớ. Càng bước sâu vào trong nghĩa trang, những kí ức u ám lại càng hiện lên trong tâm trí anh. Đôi chân anh càng lúc càng nặng nề bởi sự đau thương mà anh cố gắng đè nén trong tâm trí giờ lại bật ra, mỗi lúc một đè nặng lên cơ thể.

Đêm đó Amelia bị ốm nặng. Thuốc men trong nhà không có tác dụng. Anh đưa con bé đến bệnh viện gặp bác sĩ. Đáng tiếc thay, bác sĩ nói rằng anh đã quá muộn, con bé đã chết. Adam đã bế Amelia tới nghĩa trang nhà thờ và chôn cất con bé tại đây.

Chính vì quá sốc trước cái chết của con gái, Adam đã bị chứng mất trí nhớ phân ly. Khi một người gặp phải một cú sốc tinh thần quá lớn, như chứng kiến người thân của mình qua đời trong đau khổ, họ sẽ cự tuyệt sự thật và quên đi mớ kí ức đau thương đó, xem như việc đó chưa từng xảy ra.

Hai chân lảo đảo, anh ngã khụy trước mộ của Amelia, òa khóc.

“Amelia, cho cha xin lỗi. Cha đã không giữ được lời hứa với con rồi.”

Câu chuyện của Malik và Esma

Malik từng là một người dẫn chương trình buổi sáng. Ông chia sẻ cho khán thính giả nhiều câu chuyện khác nhau. Những câu chuyện về người nổi tiếng, bản tin giao thông, hay lũ lụt ở vùng quê. Nhưng mọi thứ đã thay đổi chóng vánh kể từ cuộc bao vây. Malik may mắn sống sót khỏi một vụ nổ bom, có điều hai chân đã bị thương nặng. Nhưng có hề gì, Malik nhất quyết đảm đương công việc phát thanh để đem đến những tin tức quý báu cho người dân Pogoren. Bởi tấm thân đã tàn tật, ông nhờ cậy vào người vợ Esma mang về những tin tức quan trọng mà bà thu thập được ở nơi đó nơi kia. Malik có một niềm tin mãnh liệt đến cố chấp, rằng người dân Pogoren cần ông, và ông có trách nhiệm làm tất cả trong khả năng của mình để giúp đỡ họ.

Esma thật vất vả. Vừa phải chăm lo cho người chồng tàn tật, vừa phải mạo hiểm tính mạng tới những nơi nguy hiểm để thu thập thông tin. Nhưng bà vẫn bằng lòng làm nhiệm vụ của mình, bởi chồng bà xem đây là mục đích sống của hai người họ trong cuộc chiến này.

Hôm nọ Esma báo cáo cho Malik về một tay súng bắn tỉa nhằm vào thường dân trong công viên. Sau khi Malik phát sóng, xạ thủ này buộc phải rời khỏi chỗ đó. Điều này bắt đầu chọc giận quân đội.

Vài ngày sau, Esma còn tìm thấy một chiếc xe tải chở đầy thức ăn và thuốc men ở trạm xăng. Malik thông báo cho người dân. Hai vợ chồng mong là người dân sẽ tới được chỗ chiếc xe trước khi quân đội kịp đến lấy. Họ tin rằng việc mình vừa làm sẽ giúp cho nhiều người sống sót.

Esma phân vân không biết chuyện có thuận lợi không. Tối hôm sau bà trở lại trạm xăng. Thì một cảnh tượng kinh hoàng bày ra trước mắt. Xác của 1 lính quân đội và 3 dân thường bị bắn chết. Những người này đã chém giết nhau không chút nương tay vì đống hàng tiếp tế.

Esma trở về nhà. Malik tươi cười báo với bà rằng dân chúng đã thông báo qua đài cho ông rằng họ đã lấy được hàng tiếp tế và cám ơn Malik. Gương mặt Malik lộ rõ vẻ tin tưởng. Ông lại ngồi xuống cặm cụi vào mớ thiết bị phát thanh. Esma nghĩ có lẽ không nên cho Malik biết thực tế đã tàn khốc như thế nào.

Những ngày sau, Esma phát hiện quân đội đang giam giữ những người dân thường tại quảng trường trung tâm. Quân đội nghi ngờ rằng họ tiếp tay cho quân nổi dậy và tra tấn họ dã man. Esma lập tức quay về báo với Malik. Quân nổi dậy nghe được tin này đã tổ chức một trận đấu súng với quân chính phủ. Dẫn đến nhiều binh sĩ thiệt mạng hơn. Quân đội càng tức giận với Malik.

“Esma. Chị có trong đó không? Chúng ta cần nói chuyện.” Bên ngoài có người đập cửa.

“Chị bảo Malik dừng lại đi. Quân đội đang rất tức giận về hành động của anh ấy. Cứ tiếp tục thì quân đội không để yên đâu.”

Esma biết chứ. Nhưng Malik đã dặn bà rằng hai người họ có sứ mạng giúp đỡ người dân thoát khỏi vũ lực của quân đội. Nhìn vào gương mặt quyết tâm của người chồng, bà cảm thấy có lỗi nếu không nói cho Malik biết sự thật. Bản thân Esma cũng không thể ngồi yên khi đã thấy tận mắt những việc làm độc ác của quân đội.

Đỉnh điểm của việc này là quân đội cho pháo kích vào một nhà máy bia. Nhiều thường dân đã thiệt mạng và bị thương, vì nước đang được trao miễn phí ở đó.

Xác chết nằm la liệt. Những người còn sống đều nằm thoi thóp, người thì mất tay, người thì mất chân. Lửa hừng hực bao trùm khắp mọi nơi. Những tiếng la hét xen giữa vô vàn những tiếng rên rỉ không ngớt. Cảnh tượng không khác gì địa ngục.

Không thể tha thứ được! Quân đội đã gây nên một tội ác chiến tranh kinh khủng. Chúng phải bị trừng phạt. Tin này phải được phát sóng để cộng đồng quốc tế kịp thời can thiệp, chấm dứt những hành động độc ác của quân chính phủ. Esma nhất quyết báo tin này cho Malik, chẳng mảy may hậu quả sẽ ra sao.

“Bản tin hôm nay xin được kết thúc. Tôi sẽ sớm cập nhật cho mọi người những tin tức mới. Xin chào tạm biệt. Hy vọng một ngày mai tốt đẹp hơn sẽ đến với tất cả chúng ta.”

Giọng nói quen thuộc của Malik đều đặn vang lên trên radio.

Ngoài nhà, một chiếc xe quân sự đậu lại gần. Một toán lính xông thẳng vào nhà. Chúng đạp cửa xông vào chỗ Malik. Thế là xong. Malik đã bị chúng bắt được. Malik không hoảng loạn. Bởi ông đã chuẩn bị cho tình huống này. Một tên lính lạnh lùng bước tới, nã đạn thẳng vào ngực Malik.

Malik đã sống vì lý tưởng, chết cũng vì lý tưởng.

Malik đã chết. Nhưng đâu đó ở ngoài kia, vẫn còn những người khác tiếp tục công việc của ông. Họ sẽ tới những nơi bị chiến tranh giày xéo, chụp lại những tội ác mà chiến tranh gây ra. Vẫn sẽ có những người khác dùng đài phát thanh để nói lên sự thật, dùng lời nói của mình để sưởi ấm trái tim của những người khốn khổ trong chiến tranh. Sẽ có những người tới những nơi vừa bị bom đạn oanh tạc để cứu giúp những người gặp nạn.

Bởi trước khi chiến tranh kịp kết thúc sinh mạng của Malik, tinh thần của ông đã phủ sóng khắp Pogoren rồi.