Cạm Bẫy Người – Mánh khóe cờ gian bạc bịp của dân làng B

“Cạm bẫy người” là phóng sự thứ 2 của cố nhà văn Vũ Trọng Phụng, được ký bút danh Thiên Hư. Tác phẩm được đăng lần đầu trên tờ báo Nhật Tân, từ số 1 (2/8/1933) đến số 14 (1/11/1933) xuất bản tại Hà Nội.

“Cạm bẫy người” gồm 14 chương viết về nạn cờ bạc bịp ở đất Hà thành vào những năm 1930, thời kỳ kinh tế nước ta suy thoái. Tác phẩm đã vạch rõ bộ mặt của một tệ nạn xã hội đồng thời nêu ra những bi kịch của nó cho bọn tín đồ “tôn giáo đỏ đen”.

Kỹ nghệ cờ bạc bịp của dân làng B

Qua việc điều tra cái làng bịp, Vũ Trọng Phụng đã gián tiếp vạch ra tổ chức, phác họa nên một chân dung sống động, mô tả chân tướng của dân làng bịp hay còn được gọi là làng B. Tác phẩm đã tường thuật cách hành nghề của nhóm người này một cách rõ ràng trước mắt của người đọc.

Cụ Phụng đã dùng cái tầm của người làm báo để cho độc giả thấy cái tệ nạn cờ bạc rộng lớn và tai hại đến đâu. Ông đã dùng cái tâm của một nhà văn hiện thực để bóc trần những bi kịch do các tay săn mòng[1] gây ra cho gia đình bọn ham mê đỏ đen, xoáy vào vấn đề gai góc, nóng bỏng mà nhức nhối đó. Thậm chí những tay săn mòng đó còn không tha cho gia đình, họ hàng của mình.

Vũ Trọng Phụng đánh lên một hồi chuông cảnh tỉnh cho người đời, buộc họ phải nhìn thẳng vào thực trạng tệ nạn cờ bạc. Đồng thời ông cũng khơi gợi suy nghĩ và thái độ của người đọc, ở cái thời buổi mà vật chất kim tiền làm nhiễu loạn tất cả lúc bấy giờ. Thậm chí, tác phẩm này còn có giá trị hiện thực tới ngày nay, khi chúng ta chỉ chạy theo đồng tiền. Kinh tế suy thoái, những trò lừa mới lại xuất hiện, kẻ đi lừa đảo lại hóa nạn nhân hay vốn dĩ những kẻ lừa đảo trước đó là nạn nhân.

Những tay máu mặt của làng B được nhắc tới trong phóng sự là ông Ấm B, tổng tham mưu, là Ba Mỹ Ký, người chế tạo khí giới, cái công cụ để hành nghề bịp hay những thợ săn, những kẻ tìm mòng… đều được nhà văn khắc họa rõ cuộc đời của họ. 

Đánh bạc là dại hay khôn? Khi anh để vợ con anh phải nheo nhóc thì nó là cái dại, còn khi anh sắm được nhà lầu xe sang thì đó là cái khôn. Và chao ôi, cái bảo hiểm cho sự đen đỏ ấy lại là những mánh trò bịp.

“Cạm bẫy người” có lối viết chuyên nghiệp của người làm báo chuyên nghiệp, tác phẩm như một phòng triển lãm ngôn từ khai sáng cho độc giả một trường từ vựng mới, để rồi phải gật gù cảm thán về sự phong phú đa dạng của tiếng Việt. Đồng thời là sự vận chuyển nhuần nhuyễn thay phiên giữa tiếng pháp và tiếng việt.

Nhà báo, nhà phê bình văn học Lê Tràng Kiều đăng trên Văn học tạp chí số 4/1935 với tiêu đề: “Một trong những nhà văn hiện thực mở đầu cho nghề phóng sự ở nước ta”, ông đã đánh giá rất cao phóng sự “Cạm bẫy người” của Vũ Trọng Phụng:

“… “Cạm bẫy người” vừa ra đời đã được ngay báo chí khắp ba miền cực lực hoan nghênh. Nó làm cho tài Vũ Trọng Phụng không còn ai ngờ được nữa.”

Trong mỗi cuộc đời, mỗi cái mà người ta gọi là xấu xa, dơ bẩn đều có lý do thật sự của nó, không phải tự nhiên mà con người ta lại chọn cách sống “sai” như vậy. Dù sao đi chăng nữa mọi chuyện cũng đã kết thúc rồi.. Và Nguyễn Trọng Phụng đã thành công trong việc làm nổi bật điểm ấy, giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn hơn về cuộc sống. Cảm thấy bất lực khi không thể làm được.

Ông vua phóng sự Bắc Kỳ

Thuở ấy ở đất Bắc có “ba chàng văn sĩ[2] họ Vũ” đại diện cho những tay phóng sự tiên phong trong làng báo Việt, bao gồm: Tam Lang Vũ Đình Chí, Thiên Hư Vũ Trọng Phụng và Tiêu Liêu Vũ Bằng. 

Thuở ban đầu bước vào nghề văn, Vũ Trọng Phụng viết kịch và truyện ngắn nhưng chưa thực sự gây được chú ý. Mãi cho đến khi dấn thân vào mảng phong sự, tên tuổi của ông mới được biết đến rộng rãi.

Những hiện tượng của xã hội đề cập qua ngòi bút sắc sảo và hóm hỉnh của tài năng văn chương ấy đã trở nên “sốt dẻo” và hấp dẫn hơn bao giờ hết. Hàng loạt bài báo đã ra đời giúp cho Vũ Trọng Phụng đạt đến đỉnh cao sự nghiệp – “Ông vua phóng sự Bắc Kỳ”.

Quan niệm văn chương của Vũ Trọng Phụng là hướng đến sự thật, cây bút sắc sảo của chủ nghĩa hiện thực phê phán ấy đã từng nói rằng, “các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời”.

“Còn người viết chuyện của phái tả chân thì khác. Trái lại, họ phải tránh những chuyện gọi được là thần kì. Mục đích của họ chẳng phải là cốt kể cho ta một câu chuyện phi thường để ta cảm phục và được giải trí, nhưng là ép ta phải nghĩ ngợi, nghĩ ngợi rồi xét đoán cho ra những cái tinh hoa lẩn trong nét mực tả chân.” – Vũ Trọng Phụng

Trong hồi ký “Bốn mươi năm nói láo”, Vũ Bằng có tiết lộ thú vị về người bạn Vũ Trọng Phụng của mình, rằng Phụng có một cái tài đặc biệt là không hề biết đánh bạc là gì, thế mà vẫn dám đề cập đến vấn đề bạc bịp để viết phóng sự cho tờ Nhật Tân.

Nếu những thiên phóng sự sau này như “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Cơm thầy cơm cô”, “Lục xì”… là những chuyến điều tra đầy xông xáo của chàng nhà báo trẻ tuổi Vũ Trọng Phụng để nhập cuộc tìm hiểu, để khảo sát kỹ càng những tệ đoan, để mục sở thị và có tư liệu gốc, thì “Cạm bẫy người” là tác phẩm mà hiện tượng tiêu cực có phần phức tạp, Vũ Trọng Phụng đã chọn cách không nhập cuộc mà khai thác gián tiếp qua lời kể của người thân để viết. 

Cũng theo như lời Vũ Bằng, thì Vũ Trọng Phụng viết như một người đánh bạc thông thạo nhất, đó là nhờ một người anh là ông Trưởng Tạo[4], cũng ở phố Hàng Bạc, nói chuyện lại để cho Phụng viết.

Phải cắt nghĩa cho rõ, nếu một tay mơ không hiểu gì về bài bạc như Vũ Trọng Phụng mà dấn thân vào chốn đỏ đen để tìm tư liệu sống viết phóng sự thì quả là một sự nguy hiểm, bởi lẽ sẽ dễ dàng rơi vào cạm bẫy trong cái hố đen đó. Trường hợp này phức tạp hơn nhiều so với chuyến đi vào nhà lục xì để viết phóng sự “Lục xì” hay hành trình đến Thị Cầu để đi tìm nguyên do cái cười mỉm của hai ông quan tòa trong thiên phóng sự “Kỹ nghệ lấy Tây”.

Trong khi mà Vũ Trọng Phụng là người “chân chỉ hạt bột”, hiền lành và đạo đức. Tiêu pha hay chơi bời gì, nhà văn cũng tính toán từng đồng xu, không phải là vì kẹo, mà bởi chính vì bản thân phải đứng mũi chịu sào lo cho cả nhà, trong đó có một bà nội góa và một bà mẹ góa, đồng thời lo sao để dành dụm được ít tiền lấy vợ, hầu có con nối dõi. 

Thậm chí Vũ Bằng cũng phải thốt lên “Đau đớn thay cho Phụng. Cho đến tận lúc chết anh chỉ phàn nàn có mỗi lúc câu: Giá mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu đã đến nông nỗi này.”

Đó là lý do Vũ Trọng Phụng chọn cách an toàn hơn để hoàn thành phóng sự “Cạm bẫy người”. Ấy thế mà cụ vẫn viết hay, viết sinh động và viết thành công đến nỗi người đọc cứ ngỡ cụ là tay ăn chơi sành sỏi khét tiếng Hà thành.

Quả thực “Cạm bẫy người” là minh chứng cho cái tài đặc biệt của Vũ Trọng Phụng. Sự kết hợp giữa những tri thức đã tích lũy được, những hiểu biết với vốn sống thực tế trực tiếp hoặc gián tiếp qua ngòi bút Vũ Trọng Phụng đều có những phẩm chất hài hòa và sắc bén mà những cây bút cùng thời không dễ mấy người có thể làm được.

Sau gần một thế kỷ, phóng sự của nhà báo họ Vũ vẫn mang những giá trị bùng nổ, hậu sinh đọc lại những: “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Cơm thầy cơm cô”, “Cạm bẫy người”,… vẫn cảm thấy như mới viết ngày hôm qua. Vẫn còn những triết lý mà người ngày nay phải ngẫm, phải nghĩ.

Bởi phóng sự của Vũ Trọng Phụng không chỉ là bức ảnh chụp đúng một thời điểm, nó còn dựng lên cả một hậu cảnh, một dĩ vãng, một tập tục, mà những người trong cảnh đã sống, đã trải qua. Phóng sự của Vũ Trọng Phụng là bức ảnh động được chụp những năm 1930 – 1940 và vẫn còn đang tươi rói đủ đầy màu sắc hôm nay trong một bối cảnh hoàn toàn khác, khi phóng sự của các nhà báo khác là những bức ảnh phai màu đóng khung trong một thời quá khứ.

Phóng sự của Vũ Trọng Phụng đều hướng tới những luận đề xã hội nóng bỏng, những ứng nghiệm nghệ thuật cao vào đời sống, nhà văn luôn quan tâm để cho tác phẩm của mình đạt tới những luận đề xã hội có ý nghĩa sâu rộng.

Ông phanh phui “thú tính” nơi con người, ngay cả ở những kẻ tưởng chừng như hiền lành, chất phác. Cụ Phụng là một người lữ hành đi sâu thám hiểm vùng tiềm thức mỗi nhân vật và vạch trần tất cả dưới ngòi bút trào phúng.

“Anh đã thu của cuộc đời được những gì mà bắt anh hiến nhiều thế? Không! Tôi biết anh là một nhà văn, mà là một nhà văn sống trong sự bần bạc, chết trong sự bần bạc.” – nhà thơ Lưu Trọng Lư

 Những năm tháng cuối đời, Vũ Trọng Phụng bị lao phổi song không có tiền chạy chữa. Thầy thuốc khám bệnh và ra toa chữa trị cho ông chính là người bạn thân thiết Ngô Tất Tố. Văn sĩ họ Ngô cũng không dám nói thật bệnh tình vì không muốn bạn trước khi từ giã cõi đời, ngoài cái lo nghèo lại còn lo thêm cái chết.

Một ngày mùa thu năm 1939, ông đã nhắm mắt xuôi tay vì không đủ tiền chạy chữa căn bệnh lao phổi chết người. Nhà văn mất khi mới 27 tuổi, đúng lúc sự nghiệp đang ở đỉnh cao, kết thúc cuộc đời đầy biến cố, sóng gió và túng quẫn.

Phía sau những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

Nhờ sự nỗ lực và tâm huyết của nhiều nhà nghiên cứu, các tác phẩm của nhà văn kiệt xuất Vũ Trọng Phụng đã và đang được tìm kiếm và bổ sung vào gia tài văn học nước nhà.

Sinh thời, Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khó nhưng khi viết Lục xì, Cạm bẫy người, Làm đĩ, Lấy nhau vì tình, người đời lại cứ tưởng ông là một tay chơi có hạng đất Hà Thành. Đâu ai biết rằng đằng sau sự nhầm lẫn thú vị ấy lại là nỗi đau cứ dằn vặt ông mãi.

Tuy không phải “tay chơi có hạng” như mọi người đồn thổi song Vũ Trọng Phụng vẫn có thể viết về những ngón nghề ấy một cách trơn tru mượt mà là bởi ông ham đọc báo chí sách vở để nhặt tin tức, điều đó cho thấy tâm huyết làm nghề của một nhà báo có tầm như ông.

Nhà văn còn từng bị gọi ra tòa trong một vụ án văn chương, truy tố về tội chửi phong hóa. Đây là thứ văn chửi đời cực thịnh thời Pháp thuộc, Vũ Trọng Phụng lại không ngần ngại thể hiện quan điểm của mình nên đã rơi vào “tầm ngắm” của bọn cai trị tay sai thời đó.

Chủ trương văn chương tả chân của nhà văn trẻ đã khiến ông gặp phản ứng mạnh từ xã hội đương thời. Vậy nên tòa đã cho Vũ Trọng Phụng hưởng án treo và phạt năm mươi quan tiền để răn đe.

Đời Vũ Trọng Phụng luôn luôn thấy sự túng thiếu nhưng không lúc nào ông tự đem sự túng thiếu mà làm phiền lụy người khác, dù khi túng thiếu cực điểm cũng vậy. Vậy mà khi đã chết ông lại bị hai người con trai mạo danh nào đó dùng tên tuổi mình để trục lợi.

“Vũ Trọng Phụng chỉ có duy nhất một cô con gái tên là Vũ Mỵ Hằng, vợ của ông. Sinh thời nhà văn sống bấn bách, khổ sở cho đến khi chết. Bản thân nhà văn Vũ Trọng Phụng là người mực thước, chỉn chu với gia đình. Người như vậy không thể nói có chuyện ong bướm, càng không có chuyện vợ này con nọ.” – Con rể văn sĩ là Nghiêm Xuân Sơn đã khẳng định như vậy. 

Vũ Trọng Phụng là cây bút đặc biệt của thế hệ đầu nguồn, thế hệ vàng của văn chương Việt Nam hiện đại. Ông là người từng trải cảnh đời, tình người đến mức nhiều khi cay nghiệt nhưng lại là người sống rất trung hậu, tình nghĩa, đầy trách nhiệm.

Nhà văn đã mất cách đây hơn tám mươi năm nhưng giá trị văn chương mà ông để lại cho hậu thế vẫn còn mãi, như người bạn thân Ngô Tất Tố đã quả quyết, “ông Phụng tuy chết, mười mấy tác phẩm của ông vẫn còn sống. Thế cũng là thọ”.

[1] Là từ lóng ám chỉ những con bạc được dân làng B chăn dắt, để lừa tiền trên chiếu bạc. Đồng thời bị các con bạc lõi đời xoay như mòng.

[2] Nhà văn là người chuyên sáng tác ra các tác phẩm văn học, đã có tác phẩm được công bố và ít nhiều được độc giả thừa nhận giá trị của một số tác phẩm.

[3] Chân chỉ hạt bột: Làm ăn chăm chỉ, cẩn thận; con người chất phác, thật thà.

[4] Trưởng Tạo là một tay ăn chơi lõi đời, rất thạo các ngón cờ bạc, ông ta là một kho tư liệu sống, thường xuyên cung cấp “thực tế” cho nhà văn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang